Bạc hà Âu có nguồn gốc ở châu Âu, hiện thời được trồng nhiều tại một số nước châu Âu, tại Bắc Mỹ, nhấn Độ, các nước Bắc Phi. Sản lượng thế giới thống kê vào năm 1990 là 3.700 tấn, trong đó Hoa Kỳ là 3.410 tấn, Nga 200 tấn, Italy 50 tấn, click Độ 40 tấn. bên trên Việt Nam có di thực nhưng chưa được phát triển .
Âu (Oleum Menthae piperitae) có mùi thơm dịu, rất được thích thú. Một số tác giả cho rằng là do Bạc hà Âu có chứa menthofuran. Tinh dầu được dùng như là chất thơm trong kỹ nghệ Dược phẩm, kỹ nghệ sản xuất rượu và bánh kẹo... Tinh dầu bạc hà Âu không dùng để chiết xuất menthol.
Vò lá của cây Bạc hà nam có mùi thơm hắc, vị cay và tê, còn vò lá Bạc hà Âu châu có mùi thơm mát, vị cay tê mát.
Menthol có tác dụng kháng khuẩn, chống co thắt, thuyên giảm đau, kích rất kết tiêu hoá, chữa hôi miệng, , chữa các bệnh cảm sốt, giúp long đờm, thông mũi, mát họng, cắt giảm căng thẳng và bỏ ra ngủ, quá tốt cho răng và giúp lưu thông máu thực hiện tinh thần thông thoáng và sảng khoái, tăng cường hệ miễn sao dịch, bớt đau, thực hiện xinh xắn da, se da, giảm bớt các vết sẹo và các vết thâm mụn.
Nhu cầu menthol trên thế giới vào khoảng 5.600tấn/năm, trong đấy 3.600 tấn là menthol vô tình , còn lại là nguồn tổng hợp. Menthol được dùng trong nhiều ngành kỹ nghệ: Kỹ nghệ dược phẩm (1.550 tấn/năm), kỹ nghệ bánh kẹo (570 tấn), kỹ nghệ sản xuất thuốc lá (1.350 tấn), sản xuất thuốc đánh răng, và các chế phẩm khác cho vệ sinh răng miệng (1.800 tấn), sản phẩm cạo râu (250 tấn) v.v.
Do đặc tính bốc hơi nhanh, bạc hà gây cảm nhận thấy mát và tê ở chỗ, rất tốt nhất có thể với các trường hợp đau dây tâm thần . Đối với những người bị dị ứng với thành phần có trong bạc hà như salicylat, menthol thì không nên phương pháp dùng .
Không dùng bạc hà hay tinh dầu bạc hà nguyên chất nhiều hơn 3 – 4 lần trong ngày để giảm bớt đau; không dùng thường xuyên mà phải chấm dứt ngay khi cơn giông tố đã chấm dứt; không bôi lên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi bên trên điểm đau, vùng đau.
Tinh dầu bạc hà và menthol còn thực hiện tăng bài xuất mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp, nên không dùng với người bị lở ngứa, tự ra mồ hôi, sốt do âm hư, bệnh nặng mới khỏi, người hư nhược , táo bón, huyết áp cao, trẻ dưới một tuổi… Cần lưu ý nữ giới cho con bú không nên dùng nhiều, vì nó ít sự tiết sữa.
Ức chế hô hấp, tuần hoàn: đối với con nít ít tuổi, tinh dầu Bạc hà và Menthol bôi vào mũi hoặc cổ họng rất có thể gây hiện tượng ức chế dẫn đến dừng thở và tim dừng đập hoàn toàn.
Người ta đã nhận xét thấy 1 số lượng trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu Menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi loại thuốc mỡ có Menthol. Vì vậy, cần hết sức cẩn trọng khi dùng tinh dầu Bạc hà hoặc dầu cù là cho trẻ nhỏ ít tuổi, nhất là trẻ mới đẻ
Tác động đến nhiệt độ cơ thể: Bạc hà, tinh dầu Bạc hà hoặc Menthol uống với liều rất nhỏ rất có thể gây hưng phấn, đang tăng bài xuất của tuyến mồ hôi, đang nhiệt độ con người hạ thấp
Liều lớn có tác dụng kích cực kết tủy sống, gây tê liệt phản xạ và cưỡng trở sự lên men thường nhật
Bạc hà, vị cay, năng phát tán; tính mát, năng thanh lợi, dùng tiêu phong, tán nhiệt. Vì vậy nó là thuốc cốt yếu chữa đầu đau, đầu phong, các bệnh về mắt, họng, miệng, răng, trẻ nhỏ sốt cao co giật cũng như lao hạch sách , lở ngứa
Khi có mồ hôi, dùng Bạc hà nên sao để bỏ vị cay, vận động ít sức đi ra biểu, lánh mồ hôi ra quá nhiều. Bạc hà ngạnh (cành) thiên về lý khí và thông kinh lạc. Bạc hà thán (sao thành than) đi vào phần huyết, phần âm để thanh phong nhiệt và hư nhiệt tại phần huyết và phần âm. Bạc hà long não còn gọi là Kê tô, sức tán nhiệt, giải độc mạnh hơn Bạc hà